Lý thuyết về Sóng Elliott chắc hẳn các bạn cũng được nghe nhắc đến khá nhiều mỗi khi nhắc tới thị trường cổ phiếu, tiền ảo hay forex phải không nào. Trong bài viết này mình sẽ giới thiệu một số lý thuyết cơ bản nhất khi các bạn sử dụng Sóng Elliott vào trong trading forex.Mọi thứ sẽ được khái quát một cách đơn giản dễ hiểu nhất để không tốn thời gian quý báu của các bạn. Chúng ta bắt đầu nhé: 

Giới thiệu về sóng Elliott

Lý thuyết sóng Elliott được R.N.Elliott phát triển vào những năm 1920. Theo ông Elliott, thị trường hoạt động theo một quy luật trật tự nhất định có dạng những con sóng, những mô hình sóng này lặp đi lặp lại nhiều lần trên thị trường. 

Sóng Elliott là loại sóng phân hình. Mỗi con sóng có thể chia thành những con sóng nhỏ hơn và cấu trúc như những con sóng lớn.

Sự hình thành

Một thị thường có xu hướng thì đi theo mô hình sóng 5-3:

  • Mô hình 5 sóng đầu là sóng đẩy (impulse waves). Trong đó một trong các sóng 1,3,5 sẽ có hiện tượng mở rộng (thường là sóng số 3).
  • Mô hình 3 sóng tiếp theo gọi là sóng điều chỉnh( corective waves). Trên hình vẽ là đoạn ABC bôi đỏ

song elliott happy live 1

                              Đừng nhầm lẫn sóng điều chỉnh 2-4 với abc nhé.

Quy tắc đếm sóng

Bạn có tự hỏi tại sao lại có những con sóng như vậy trên thị trường? Hãy cùng phân tích một chút về tâm lí thị trường nhé. Các bạn phải đặt bản thân các bạn đứng ở 2 vai trò: 1-Nhà đầu tư nhỏ lẻ, 2- Nhà tạo lập. Ở đây admin sẽ lấy ví dụ về cổ phiếu nhé

  1. Sóng 1: Thị trường có những bước tăng trưởng đầu tiên. Điều này đa phần được tạo ra bởi 1 nhóm người( hầu hết là nhà tạo lập hoặc cổ đông lớn). Vì một lí do nào đó, họ kì vọng trong tương lai giá đồng coin, hoặc cổ phiếu này tiềm năng, họ bắt đầu mua==> khiến giá tăng nhẹ
  2. Sóng 2: Thị trường tăng trưởng được một thời gian. Với những nhà đầu tư mua từ trước, họ cảm thấy cổ phiếu đạt tới giá trị của nó và bắt đầu chốt lời. Đứng ở vai trò nhà tạo lập, họ muốn nâng giá trị cổ phiếu lên, họ liên tục gom cổ phiếu với mức giá cao( mua giá 1, bán giá 5==> mua lại giá 2===> bán giá 8….). Giá cổ phiếu không quay lại được mốc thấp trước đó
  3. Sóng 3: Đây là giai đoạn cổ phiếu được chú ý nhất, nhiều người thấy được giá trị tiềm năng và liên tục gom vào khiến giá cổ phiếu tăng mạnh mẽ nhất, đây cũng là lí do tại sao sóng 3 luôn dài và mạnh. Thực chất nếu sóng 3 không mạnh,thì sóng 5 sẽ là sóng mạnh nhất, nó do yếu tố tâm lí của thị trường còn e ngại vào giá trị thực của cổ phiếu hoặc đồng coin đó.
  4. Sóng 4: Đây là giai đoạn gần như ” bão hòa”, giá cổ phiếu được đẩy lên quá cao. Tại thời điểm này, sẽ tồn tại các trạng thái tâm lí: Người mua từ trước đó họ chốt lời, thứ hai là những nhà đâu tư vẫn kì vọng giá tiếp tục lên, họ chờ giá giảm để mua thêm vào, thứ 3 là nhà tạo lập, họ dẫn dắt thị trường. Vì thế sóng 4 thường khá yếu
  5. Sóng 5: Thời điểm này cũng khá nhiều người tham gia vào thị trường, giai đoạn này nhà tạo lập đưa ra vô số lý do tốt để mua cổ phiếu. Đồng thời đây cũng là giai đoạn thị trường rơi vào trạng thái quá mua, nhiều người bắt đầu xả hàng bán ra cổ phiếu khiến mô hình sóng điều chỉnh ABC hình thành và bắt đầu 1 con sóng mới

Dễ nhận thấy nhất ở sóng 5 này, thường xảy ra phân kì giảm giá.

 Sóng Elliott với XAUUSD, phân kì bắt đầu xảy ra khi tạo sóng 4
Sóng Elliott với XAUUSD, phân kì bắt đầu xảy ra khi tạo sóng 4

3 quy tắc lưu ý khi sử dụng sóng Elliott

  • Quy tắc 1: Sóng 3 không bao giờ được là sóng ngắn nhất trong số các sóng đẩy( nếu sóng 3 không dài, thì sóng 5 dài)
  • Quy tắc 2: Sóng 2 không bao giờ được vượt khỏi điểm hình thành sóng 1( điều này các bạn áp dụng lý thuyết cung cầu hoắc kháng cự hỗ trợ sẽ giải thích được phải không nào)
  • Quy tắc 3: Sóng 4 không bao giờ được đi vào vùng của sóng 1
  • Ngược lại, đôi khi, sóng 5 không thể đi xa hơn vùng kết thúc của sóng 3. Đây gọi là hiện tượng sóng cụt (truncation)
  • Sóng 5, thường sẽ vượt lên hoặc cắt xuống đường xu hướng được vẽ song song từ sóng 3 với đường xu hướng nối điểm bắt đầu sóng 3 và sóng 5
  • Sóng 3 thường là rất dài, mạnh và mở rộng
  • Sóng 2 và sóng 4 thường sẽ bật lại từ các vùng Fibonacci retracement 

P/s: – Bài viết chỉ mang tính chất giới thiệu cơ bản nhất về sóng Elliott, hi vọng giúp ích được cho các bạn trong giao dịch.

Lướt sóng Elliott

Giả định, kịch bản có thể đúng nhất (Kịch bản 1):

Giả sử là bạn muốn bắt đầu đếm sóng. Bạn thấy rằng giá có thể đã tạo đáy và bắt đầu tăng trở lại. Sử dụng kiến thức sóng Elliott, bạn đặt tên cho con sóng tăng là Sóng 1 và đoạn điều chỉnh lại Sóng 2

sóng

Để tìm điểm vào tốt, bạn hãy xem lại các qui tắc chính và các chỉ dẫn để áp dụng. Kết quả là:
 Qui tắc 2: Sóng 2 không bao giờ được vượt khỏi điểm hình thành sóng 1
 Sóng 2 và 4 thường chạm vào các mức hồi lại của Fibonacci retracement
Vì vậy, bạn căn Fibonacci Retracement cho đoạn sóng 1 và thấy rằng giá đang nằm ở Fib 50%. Đây có thể là điểm bắt đầu sóng 3, vốn là dấu hiệu tăng rất mạnh

sóng elliott

Là một trader tuân thủ chặt quản lí vốn , bạn sẽ luôn quan tâm đến việc đặt dừng lỗ khi giao dịch.

Qui tắc chính số 2 cho rằng sóng 2 không bao giờ vượt khỏi điểm hình thành sóng 1, vì vậy, bạn đặt dừng lỗ phía dưới đáy cũ, nơi bắt đầu sóng 1

Nếu giá bật lại hơn 100% của sóng 1 thì tức là việc đếm sóng của bạn đã sai. Ở trừng hợp này, bạn đã đúng, thị trường tăng mạnh

sóng elliott 2
Kịch bản 2 : Giao dịch với sóng điều chỉnh
sóng điều chỉnh abc

Bạn bắt đầu đếm sóng trong xu hướng giảm và bạn nhận ra rằng mô hình sóng điều chỉnh ABC là một giai đoạn giá đi ngang.

Liệu đây có phải là mô hình sóng phẳng (flat)? Điều này có nghĩa là giá sẽ bắt đầu 1 giai đoạn sóng đẩy mới sau khi sóng phẳng C kết thúc

sóng 5

Bạn đặt lệnh bán và tin tưởng vào khả năng giá sẽ tạo một sóng đẩy mới

Bạn đặt dừng lỗ ở phía trên nơi bắt đầu sóng 4 nhằm tránh trường hợp bạn đếm sóng bị sai

Trên đây là các ví dụ thành công và tất nhiên, nó vẫn có những trường hợp đếm sai sóng.

Tổng kết lý thuyêt sóng Elliott

Theo Lý thuyết sóng Elliott, thị trường biến động trong những mô hình lặp lại gọi là Sóng
Đặc điểm:
 Sóng Elliott là loại sóng phân hình. Mỗi con sóng có thể chia thành những con sóng nhỏ hơn với cấu trúc như sóng lớn.
 Một thị trường có xu hướng thì đi theo mô hình sóng 5-3
 Mô hình 5 sóng đầu tiên gọi là sóng đẩy – impulse wave
 Một trong số 3 sóng đẩy (1, 3, 5) sẽ có hiện tượng mở rộng. Sóng 3 thường là sóng mở rộng
 Mô hình 3 sóng tiếp theo gọi là sóng điều chỉnh. Những chữ cái cũng như những con số
được dùng để đánh dấu sóng điều chỉnh
 Sóng 1,3 và 5 được hình thành từ mô hình 5 sóng đẩy nhỏ hơn trong khi sóng 2 và 4 được hình thành từ mô hình 3 sóng điều chỉnh nhỏ hơn
 Có 21 kiểu mô hình sóng điều chỉnh nhưng nó chỉ xuất thân từ 3 loại mô hình chính rất
đơn giản và dễ hiểu
 Ba loại mô hình sóng điều chỉnh cơ bản là zig-zags, phẳng (flat), và tam giác
Có 3 qui tắc chính trong việc đếm sóng:
 Qui tắc 1: Sóng 3 không bao giờ được là sóng ngắn nhất trong số các sóng đẩy (impulse wave)
 Qui tắc 2: Sóng 2 không bao giờ được vượt khỏi điểm hình thành sóng 1
 Qui tắc 3: Sóng 4 không bao giờ được đi vào vùng của sóng 1

Nếu bạn chăm chỉ luyện tập đếm sóng, bạn sẽ thấy được rằng thị trường thực sự biến động theo sóng. Bởi vì thị trường không bao giờ cũng đi đúng như lý thuyết nên bạn phải tốn rất nhiều thời gian cho việc luyện tập đếm sóng cho đến khi bạn cảm thấy thoải mái với sóng Elliott. Lời khuyên của admin dành cho các bạn: Hãy giao dịch với thị trường tạo sóng rõ ràng. Hãy siêng năng và đừng bao giờ đầu hàng.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *